VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 421/TB-VPCP | Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2026 |
THÔNG BÁO
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng
_________________________________________
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã chủ trì cuộc họp về sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng (cuộc họp). Tham dự cuộc họp có Lãnh đạo, đại diện các Bộ, cơ quan: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Công an và Văn phòng Chính phủ.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ý kiến của các đại biểu tham dự cuộc họp, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng kết luận như sau:
I. Đánh giá cao những nỗ lực và kết quả đạt được của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các địa phương trong thời gian qua.
Qua báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ý kiến phát biểu của các Bộ, cơ quan, cho thấy công tác quản lý mã số vùng trồng, mã cơ sở đóng gói và hoạt động kiểm nghiệm sầu riêng phục vụ xuất khẩu trong thời gian qua đã được Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường quan tâm chỉ đạo theo hướng ngày càng chặt chẽ, bài bản về quy trình cấp mã số, rút ngắn thời gian cấp mã, mở rộng hệ thống các phòng kiểm nghiệm để tiệm cận và đáp ứng với yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2026, ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan đã tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng. Kết quả xuất khẩu nông lâm thủy sản 7 tháng đầu năm đã đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điểm sáng lớn nhất là xuất khẩu rau quả đạt 4,83 tỷ USD, tăng tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước (xuất khẩu sầu riêng tiếp tục tăng mạnh cả về sản lượng và giá trị).
Tuy nhiên, công tác quản lý nông sản nói chung và sầu riêng nói riêng trong thời gian qua còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc, cần có sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan. Việc xuất khẩu sầu riêng đặt ra yêu cầu ngày càng phải nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và chủ động đa dạng hóa thị trường, nhất là trong bối cảnh sầu riêng của Việt Nam hiện nay đang bước vào mùa vụ tiêu thụ cao điểm. Đây là ngành hàng phát triển nhanh, có hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ, lâu dài để tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
II. Nhiệm vụ trong thời gian tới
Trong thời gian tới sản xuất và xuất khẩu sầu riêng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: Nhu cầu tiêu dùng của các thị trường lớn truyền thống chưa ổn định; xu hướng bảo hộ thương mại và các rào cản kỹ thuật, áp lực từ tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc ngày càng cao. Yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt. Để góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, doanh nghiệp, phấn đấu đạt mục tiêu xuất khẩu của ngành sầu riêng và của ngành nông nghiệp năm 2026, yêu cầu các bộ, cơ quan triển khai các nhiệm vụ sau:
1. Các nhiệm vụ, giải pháp chung
- Tổ chức sản xuất: (1) Rà soát, tổ chức lại vùng nguyên liệu sầu riêng trên cơ sở đất đai, nguồn nước, khí hậu, hạ tầng và khả năng liên kết thị trường; hạn chế mở rộng tự phát tại khu vực không phù hợp về khí hậu, đất đai, nguồn nước, cơ sở hạ tầng; (2) Tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa, gắn sản xuất với sơ chế, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu; (3) Khuyến khích Doanh nghiệp xuất khẩu đầu tư trở lại cho vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật, thiết lập quy trình truy xuất và bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn thị trường. Xây dựng thương hiệu quốc gia cho sầu riêng Việt Nam gắn với chỉ dẫn địa lý, đặc trưng chất lượng và lợi thế mùa vụ;
- Nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc: Hướng dẫn người sản xuất thực hiện quy trình canh tác an toàn, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Chủ động xây dựng và triển khai Chương trình giám sát về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật đối với sản phẩm sầu riêng xuất khẩu; thiết lập hệ thống giám sát, cảnh báo sớm về dịch hại cây trồng; khoanh vùng xử lý, kiên quyết không cấp phép xuất khẩu và áp dụng biện pháp chế tài quản lý nghiêm ngặt đối với sản phẩm sầu riêng có nguồn gốc từ vùng trồng bị cảnh báo nhiễm Cadimi;
- Phát triển hạ tầng sản xuất, bảo quản, chế biến và logistics: Khuyến khích đầu tư cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến tại các vùng sản xuất tập trung; nâng cao tỷ trọng sản phẩm chế biến, xây dựng chính sách chung về hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Đa dạng hóa sản phẩm và thị trường: Tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng thị phần ở các thị trường tiềm năng. Mở rộng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang các thị trường như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc, Úc... Đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại các thị trường tiềm năng như Anh, Pháp, Hà Lan, UAE. Đồng thời tăng cường thông tin, dự báo thị trường để định hướng sản xuất phù hợp.
2. Nhiệm vụ cụ thể các Bộ, cơ quan địa phương
(1) Bộ Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP; kịp thời hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, triển khai cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói;
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cập nhật đồng bộ, kết nối liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ vận hành;
- Nâng cao năng lực, số lượng cơ sở kiểm nghiệm nông sản bảo đảm phù hợp với yêu cầu của Trung Quốc và các nước nhập khẩu, tăng cường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện tại địa phương trong việc cấp phép đăng ký lĩnh vực hoạt động kiểm nghiệm;
- Tiếp tục làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) để đẩy nhanh tiến độ công nhận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm; thống nhất quy trình kiểm tra thông quan đối với sản phẩm sầu riêng Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc bảo đảm thông thoáng, thuận lợi.
(2) Bộ Công Thương
Chỉ đạo các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài chủ động nắm bắt, cập nhật kịp thời các chính sách thương mại, rào cản kỹ thuật và yêu cầu thị trường của nước nhập khẩu. Tăng cường thông tin, cảnh báo sớm và hướng dẫn doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, kiểm nghiệm tổ chức điều tiết tiến độ giao hàng phù hợp nhằm hạn chế tình trạng tập trung hàng hóa, gây quá tải cho hệ thống kiểm nghiệm và cửa khẩu xuất khẩu.
(3) Bộ Khoa học và Công nghệ
- Chỉ đạo các Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng (Quatest 1, Quatest 2, Quatest 3) và các phòng kiểm nghiệm chuyên ngành trực thuộc khẩn trương khôi phục năng lực, hồ sơ pháp lý phòng kiểm nghiệm, hoàn thiện hồ sơ đăng ký kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tháng 8 năm 2026 để gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, đề nghị phía Trung Quốc xem xét, công nhận;
- Tổng hợp, chia sẻ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường về dữ liệu các phòng kiểm nghiệm có đủ năng lực phân tích chỉ tiêu Cd, Vàng O; chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra và hỗ trợ tháo gỡ các khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai việc cấp đăng ký lĩnh vực hoạt động kiểm nghiệm tại địa phương.
(4) Bộ Tài chính
Đơn giản hóa thủ tục hành chính về thuế tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và thu hút đầu tư của các thành phần vào kinh tế nông nghiệp, nông thôn; chỉ đạo cơ quan liên quan tạo thuận lợi cho hàng nông sản xuất khẩu nói chung, mặt hàng sầu riêng nói riêng.
(5) Bộ Công an
Chỉ đạo Công an các địa phương tăng cường nắm tình hình, kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm nghiệm, nhất là vùng cửa khẩu, không để ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản.
(6) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
- Chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, triển khai kế hoạch phát triển sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; chuẩn hóa dữ liệu vùng nguyên liệu; đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản và logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất.
- Rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích sầu riêng không mở rộng diện tích; tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu thị trường.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra ách tắc trong việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm hoặc ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu sầu riêng.
(7) Các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí định hướng dư luận, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, bảo đảm phản ánh khách quan, đầy đủ kết quả đạt được trong thực tiễn nhằm minh bạch hóa thị trường, xây dựng thương hiệu quốc gia bền vững về sầu riêng.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan biết, thực hiện./.
| KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM |