BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 5883/CT-CS V/v trả lời công văn số 1926/DAN-QLDN1 | Hà Nội, ngày 14 tháng 8 năm 2026 |
Kính gửi: Thuế thành phố Đà Nẵng
Trả lời công văn số 1926/DAN-QLDN1 của Thuế thành phố Đà Nẵng về việc vướng mắc chính sách thuế đối với xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, Cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 40 Luật quản lý thuế số 108/2025/QH15 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026);
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 22 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế;
Căn cứ điểm c.5 khoản 1, điểm d khoản 2, điểm b.6 khoản 5 Điều 19 Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khai thuế giá trị gia tăng;
Căn cứ điểm b.3 khoản 1, điểm d.2 và điểm đ khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 21 Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khai thuế thu nhập doanh nghiệp;
Đối với trường hợp bên nhận bảo đảm (không bao gồm Ngân hàng Nhà nước) bán tài sản bảo đảm để xử lý nợ thì thực hiện theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 40 Luật quản lý thuế số 108/2025/QH15, điểm c khoản 2 Điều 22 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, Điều 19 và Điều 21 Thông tư số 89/2026/TT- BTC.
Đề nghị Thuế thành phố Đà Nẵng căn cứ quy định nêu trên, tình hình thực tế phát sinh để hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định./.
| TL. CỤC TRƯỞNG |