CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 11183/DON-QLDN1 V/v chính sách thuế | Đồng Nai, ngày 25 tháng 6 năm 2026 |
Kính gửi: Công ty TNHH Công nghiệp Brother Sài Gòn
(Địa chỉ: Lô 301, đường 7A, KCN Long Bình (Amata), Phường Long Bình, thành phố Đồng Nai; MST: 3602482363)
Thuế thành phố Đồng Nai nhận được văn bản của Công ty TNHH Công nghiệp Brother Sài Gòn (sau đây gọi là Công ty) ngày 31/3/2026 về việc chính sách thuế đối với doanh nghiệp chế xuất (DNCX) sử dụng hóa đơn; kê khai thuế GTGT và xuất hóa đơn cho các khoản thu hộ, chi hộ. Về vấn đề này, Thuế thành phố Đồng Nai có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 6, khoản 11 Điều 26 Nghị định 35/2022/NĐ-CP quy định riêng áp dụng đối với khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất;
Căn cứ khoản 1 Điều 16 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định về hóa đơn, chứng từ;
Căn cứ Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 và điểm d khoản 1 Điều 3 Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định về người nộp thuế;
Căn cứ khoản 3 Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế 2019 quy định về các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế.
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP) quy định về loại hóa đơn.
1. Về việc kê khai thuế GTGT:
Căn cứ quy định tại Điều 4 Luật Thuế GTGT, khoản 1 Điều 3 Nghị định 181/2025/NĐ-CP thì doanh nghiệp chế xuất không phải là người nộp thuế theo quy định của Luật Thuế GTGT.
Trường hợp doanh nghiệp chế xuất thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế thì doanh nghiệp chế xuất là người nộp thuế GTGT theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Nghị định số 181/2025/ NĐ-CP của Chính phủ.
2. Về sử dụng hóa đơn
Trường hợp doanh nghiệp chế xuất bán sản phẩm do doanh nghiệp chế xuất sản xuất vào thị trường nội địa, không phải là hoạt động kinh doanh khác thì hàng hóa nhập khẩu từ doanh nghiệp chế xuất vào thị trường nội địa thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu, doanh nghiệp chế xuất sử dụng hóa đơn bán hàng, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan”.
Trường hợp doanh nghiệp chế xuất có hoạt động kinh doanh khác (ngoài hoạt động chế xuất theo quy định pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất) khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thì sử dụng hóa đơn bán hàng, doanh nghiệp chế xuất khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 (sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020) của Chính phủ.
3. Về việc xuất hóa đơn cho các khoản thu hộ, chi hộ:
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP về nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ thì:
“1. Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn để giao cho người mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa) và các trường hợp lập hóa đơn theo quy định tại Điều 19 Nghị định này. Hóa đơn phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 10 Nghị định này. Trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử phải theo định dạng chuẩn dữ liệu của cơ quan thuế theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.”
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP về nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ thì:
“ 6. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, điểm a, điểm e, điểm l, điểm m, điểm n khoản 4 Điều 9 và bổ sung điểm p, điểm q, điểm r vào khoản 4 Điều 9 như sau:
…
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a, điểm e, điểm l, điểm m, điểm n khoản 4 như sau:
“ a) Đối với các trường hợp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ với số lượng lớn, phát sinh thường xuyên, cần có thời gian đối soát số liệu giữa doanh nghiệp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ và khách hàng, đối tác gồm: Trường hợp cung cấp dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải hàng không, cung ứng nhiên liệu hàng không cho các hãng hàng không, hoạt động cung cấp điện (trừ đối tượng quy định tại điểm h khoản này), cung cấp dịch vụ hỗ trợ vận tải đường sắt, nước, dịch vụ truyền hình, dịch vụ quảng cáo truyền hình, dịch vụ thương mại điện tử, dịch vụ bưu chính và chuyển phát (bao gồm cả dịch vụ đại lý, dịch vụ thu hộ, chi hộ), dịch vụ viễn thông (bao gồm cả dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng), dịch vụ logistic, dịch vụ công nghệ thông tin (trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này) được bán theo kỳ nhất định, dịch vụ ngân hàng (trừ hoạt động cho vay), chuyển tiền quốc tế, dịch vụ chứng khoán, xổ số điện toán, thu phí sử dụng đường bộ giữa nhà đầu tư và nhà cung cấp dịch vụ thu phí và các trường hợp khác theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm hoàn thành việc đối soát dữ liệu giữa các bên nhưng chậm nhất không quá ngày 07 của tháng sau tháng phát sinh việc cung cấp dịch vụ hoặc không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ quy ước. Kỳ quy ước để làm căn cứ tính lượng hàng hóa, dịch vụ cung cấp căn cứ thỏa thuận giữa đơn vị bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ với người mua.
…”
Căn cứ các quy định trên: Theo văn bản hỏi của Công ty vướng mắc mang tính chung chung, chưa rõ ràng nên đề nghị Công ty căn cứ theo quy định nêu trên và tình hình thực tế tại Công ty để thực hiện.
Thuế Thành phố Đồng Nai thông báo để Công ty biết và thực hiện đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật./.
| KT. TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ |